Austin

She left without leavin’ a number Cô ấy ra đi mà chẳng để lại số điện thoại
Said, she needed to clear her mind Cô ấy nói rằng cô cần rũ bỏ đầu óc
He figured she’d gone back to Austin Anh ấy hiểu ra rằng cô ấy đã trở lại Austin
‘Cause she talked about it all the time vì cô ấy cứ nhắc mãi về nơi ấy
(1 thành phố xinh đẹp thuộc bang Texas)
It was almost a year Gần 1 năm trôi
Before she called him up cô ấy mới lại gọi điện cho anh
Three rings and an answering machine 3 tiếng chuông rồi đến tiếng máy trả lời tự động
Is what she got là tất cả những gì cô ấy nhận được
(tiếng từ máy trả lời tự động được ghi âm sẵn*)
“If you’re callin’ ’bout the car I sold it “Nếu bạn gọi về chiếc xe thì tôi đã bán nó rồi
If this is Tuesday night I’m bowling Nếu hôm nay là thứ 3 thì hẳn là tôi đang chơi bowling
If you’ve got somethin’ to sell Nếu bạn muốn bán cho tôi thứ gì đó (qua điện thoại*)
You’re wastin’ your time, I’m not buyin'” thì đừng lãng phí thời gian của mình, tôi không mua đâu
If it’s anybody else, wait for the tone Nếu bạn là ai khác (không thuộc cái đám ở trên*), đợi tiếng bíp
You know what to do và biết mình phải làm gì rồi đó
(sau tiếng bíp máy sẽ bắt đầu ghi âm lời nhắn*)
And P S if this is Austin Và xin nhắn nếu cuộc gọi này từ Austin
I still love you” anh vẫn yêu em”
The telephone fell to the counter Cái điện thoại rôi xuống bàn
(Có lẽ cô ấy gọi từ 1 quán bar hay nơi nào đó tương tự, vì người thường đặt dt tại quầy counter*)
She heard but she couldn’t believe Cô ấy nghe hết nhưng vẫn chưa tin vào tai mình
What kind of man would hang on that long loại đàn ông gì mà có thể chịu đựng lâu như thế
What kind of love that must be yêu kiểu gì thế này
She waited three days Cô ấy đợi 3 ngày
And then she tried again và thử gọi lại
She didn’t know what she’d say cô ấy chẳng biết nói gì
But she heard three rings and then nhưng cô ấy nghe 3 tiếng chuông và rồi
(tiếng từ máy trả lời tự động được ghi âm sẵn*)
If it’s Friday night I’m at the ballgame “Nếu hôm nay là thứ sáu thì tôi đang chơi bóng
And first thing Saturday, if it don’t rain Và điều đầu tiên tôi sẽ làm nếu thứ 7 trời không mưa
I’m headed out to the lake Là tôi rời nhà đi đến hồ
And I’ll be gone, all weekend long Và tôi sẽ ở đó cho đến hết cuối tuần
But I’ll call you back when I get home Nhưng tôi sẽ gọi lại cho bạn khi tôi về nhà
On Sunday afternoon vào buổi chiều Chủ Nhật
And P S if this is Austin Và xin nhắn nếu cuộc gọi này từ Austin
I still love you anh vẫn yêu em”
Well, this time she left her number à, lần này cô để lại số điện thoại của mình
But not another word nhưng không nói thêm lời nào
Then she waited by the phone on Sunday evenin’ Rồi cô ấy ngồi đợi bên chiếc phone cả chiều Chủ nhật
(để không lỡ mất nếu anh ấy có gọi*)
And this is what he heard Và anh ấy nhận được thông điệp
(khi anh ấy gọi lại cho cô ấy, sau khi đi chơi hồ về*)
If you’re callin’ ’bout my heart, it’s still yours “Nếu anh gọi về trái tim em, thì nó vẫn thuộc về anh
I should’ve listened to it a little more Em cần lắng nghe nó (trái tim*) kỹ hơn nữa
Then it wouldn’t have taken me so long Vì nó đã làm em tốn quá nhiều thời gian
To know where I belong mới nhận ra nơi chốn em thuộc về
And by the way, boy Và này chàng trai,
This is no machine you’re talkin’ to đây không phải là cái máy trả lời tự động đâu
Can’t you tell, this is Austin anh có nhận ra không, đây là Austin
And I still love you Và em vẫn yêu anh
I still love you em vẫn yêu anh

* người dịch chú thích

1 bài hát dễ thương, dễ thương từ cách chàng trai dùng máy trả lời tự động và rồi cô gái chờ đợi để trả lời chàng trai theo phong cách của máy trả lời tự động.

Đây có lẽ là bài hát của Blake Shelton mà tôi thích nhất.

Bài này cũng có nhiều điểm văn phạm hay

nhạc country thường hay kể chuyện nên cả bài đều dùng thì quá khứ – khi kể chuyện ta nên nhớ là luôn dùng thì quá khứ đơn – ngoại trừ mấy đoạn điện thoại trong ngặc kép thì dùng thì hiện tại.

Ngoài ra cũng có câu dùng thì quá khứ hoàn thành đó là ‘He figured she’d gone back to Austin’ – vì sự việc cô ấy ra đi xảy ra trước khi anh ấy hiểu là cô ấy đi đâu

Thì quá khứ hoàn thành dùng để điễn tả 1 hành động xảy ra trước 1 hành động khác trong quá khứ – cấu trúc had+v3. Thế nên ‘figured’ ở đây là V2, còn ‘she’d gone’ dùng cấu trúc had + v3 (gone) – she’d = she had.

còn về phần cấu trúc câu cũng có 1 cấu trúc khá hay là : take someone time to do something – trong bài này là câu ‘it wouldn’t have taken me so long to know where I belong’. Cấu trúc này nên được hiểu là/ dịch là: ai đó/cái gì đó tốn 1 khoảng thời gian để làm cho ai đó điều gì đó – hơi khó hiểu nhỉ. Trong bài hát thì đoạn đó dịch như sau: trái tim (cái gì đó) đã không làm em (ai đó) tốn nhiều thời gian (1 khoảng thời gian) để nhận ra nơi chốn em thuộc về (điều gì đó).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s